Địa giới Campuchia và quan hệ với Việt Nam

Nhân chuyến dã ngoại đi Hakone/Atami cùng các bạn nhận HB Lotte, được xếp ngồi cạnh và ở cùng một bạn Campuchia, cũng là lần đầu tiên tiếp xúc và nói chuyện nhiều với một người Campuchia nên mình cũng hào hứng tranh thủ hỏi han. Ấy vậy mà, về các vấn đề khác cậu có vẻ nhiệt tình nhưng riêng khi hỏi về vấn đề lịch sử thì cậu ta có vẻ né tránh, chỉ nói đại ý rằng chuyện quá khứ giờ nhắc lại thì dễ gây CĂNG THẲNG, nên thời đại này chỉ cần cùng nhau phát triển trong hoà bình là vui rồi. Cũng từng nghe nói dân Campuchia ghét Việt Nam lắm vì những va chạm trong quá khứ, thế nên hôm ấy lờ mờ quả là có cảm nhận thấy thế thật, dù anh bạn trả lời rất giữ kẽ và lịch sự. Vậy thì những va chạm trong quá khứ ấy thực sự là như thế nào, để khiến các bạn Campuchia cảm thấy “dễ gây căng thẳng” tới vậy? Cùng thử đi tìm câu trả lời qua quá trình lập nước Campuchia xem sao.

Khu vực là nước Campuchia ngày nay từ thế kỷ 1 hình thành nên Vương quốc Phù Nam (Kingdom of Funan). Tài liệu sử học cho thấy Phù Nam bắt nguồn từ khu vực sông Mekong ở phía Nam Việt Nam ngày nay, phát triển mạnh về phía Tây và bao phủ khu vực Campuchia và Thái Lan ngày nay. Thời kỳ này trên phía Bắc Việt Nam nhà nước Âu Lạc vẫn đang phải chống cự tham vọng xâm chiếm của nhà Hán. Có một điểm cần lưu ý là ngay từ thời này thì Chiêm Thành, nhà nước của người Chăm Pa ở vùng duyên hải đã hình thành và độc lập với cả Phù Nam lẫn Âu Lạc. Vương quốc Phù Nam tồn tại khoảng 5 thế kỷ.

Vương quốc Phù Nam (thế kỷ 1-6)

Từ khoảng năm 550 sau CN, nội chiến tranh ngôi trong hoàng tộc xảy ra và cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ của Phù Nam. Vương Quốc Chân Lạp (Kingdom of Chenla) ở phía Bắc Phù Nam, kết hợp với mấy tướng trốn chạy của Phù Nam nên dần lớn mạnh, rồi rốt cục thâu tóm cả Phù Nam. Phạm vi của Chân Lạp bao gồm nước Campuchia và 1 phần Thái Lan và Lào ngày nay. Đây là đất nước có nền văn hoá chịu ảnh hưởng chính từ Ấn Độ, có 2 tôn giáo chính là Phật Giáo và Hindu giáo, và người dân nói tiếng Khmer cổ, có thể nói là mang đầy đủ bản sắc và đặc trưng của nước Campuchia. Nước Chân Lạp tồn tại từ thế kỷ 6 tới thế kỷ 9, trong thời kỳ này cũng nhiều lần quấy phá lên phía Bắc, lúc đó là nhà Lý của Việt Nam.

Vương quốc Chân Lạp (thế kỷ 6-9)

Thực tế là, lịch sử một nước có thể nhiều lần hợp tan, mất chỗ này, lấy thêm chỗ kia, nhưng người dân ở nước đó thời nay sẽ luôn có xu hướng coi thời kỳ nước mình phát triển mạnh mẽ (một cách tương đối) nhất, có biên giới rộng nhất,.. là hình ảnh ĐÚNG ĐẮN nhất của quốc gia mình. Thêm vào là đúng mà mất đi là sai. Do vậy cho dù người Việt Nam có rằng nước Việt Nam như bây giờ là chuẩn nhất (dù mất vài phần đất phía Bắc) thì người Campuchia lại không hề nghĩ vậy. Với họ, vương quốc Campuchia đúng ra phải là toàn bộ Đế chế Khmer hồi thế kỷ 9-14, thời họ phát triển cực thịnh, với diện tích bao trùm cả Lào, Thái Lan, cũng như miền Tây Nam Bộ của Việt Nam ngày nay, và kinh đô đặt ở Angkor ngày nay vẫn còn nhiều dấu tích bề thế. Sử sách Việt Nam thời đó vẫn gọi Vương quốc Khmer là Chân Lạp.

Đế chế Khmer (thế kỷ 9)

Đáng buồn cho họ là từ cuối thế kỷ 13, đế chế Khmer suy yếu thảm hại, tạo điều kiện cho người Xiêm ở phía Tây vùng lên lấn đất (nay là Thái Lan), trong khi Tướng Fa Ngum ly khai trên phía Bắc lập nên nước Vạn Tượng (Lan Xang, nay là Lào), còn ở phía Đông là nhà Nguyễn khai khẩn (sau khi đã thu phục Chiêm Thành – nhà nước của người Chăm Pa).

Đông Dương thế kỷ 15 (Khmer màu đỏ, Vạn Tượng màu xanh lá, Xiêm màu tím xanh, Chiêm Thành màu vàng và Đại Việt màu xanh da trời)

Tuy nhiên, khác với việc hình thành nhà nước Xiêm và Vạn Tượng, hoạt động khai phá xuống phía Nam của nhà Nguyễn diễn ra sau đó, chỉ mới từ thế kỷ 17 trở đi (sau khi sáp nhập dần Chiêm Thành từ thế kỷ 11 tới 15), nên đối với người Campuchia bây giờ họ “nhớ dai” hơn.

Bối cảnh thời đó là nước Đại Việt bị chia đôi do Trịnh – Nguyễn phân tranh, dẫn tới việc dân ở đàng trong phải di tản xuống phía Nam để chạy trốn, cũng đồng thời là để tìm vùng đất mới khỏi khu vực miền Trung khắc nghiệt. Do trung tâm của Chân Lạp từ lâu đã rời lên Angkor (Siem Riep ngày nay) nên khu vực phía Đông Nam Vương Quốc Khmer thời đó hầu như bị bỏ hoang, và là một bãi sình lầy ít dân và không được chính quyền quản lý. Thêm nữa, Angkor bị người Xiêm đánh bại và tiêu diệt nên thế nước Khmer rất yếu, không còn tâm trí nào kháng cự luồng di dân từ Đại Việt. Thấy dân đàng trong xuống đây vô tổ chức không ai quản lý, chúa Nguyễn – vốn có quan hệ hữu hảo với triều đình Khmer đã mượn đất Prey Nokor (sau là Sài Gòn) làm nơi quản lý và thu thuế dân di cư Việt Nam. Tới thế kỷ 17, bên Khmer xảy ra nội chiến, nhà Nguyễn do giúp một Hoàng thân Chân Lạp lên ngôi nên được cho phép làm chủ vùng Sài Gòn, Đồng Nai. Cuối thế kỷ 17, từ Trung Quốc một tướng nhà Minh cùng khoảng 3000 dân không chịu quy phục nhà Thanh nên đã đi thuyền sang xin làm dân Đại Việt. Nhà Nguyễn cử những người này xuống ở và khai khẩn đất miền Nam cùng dân di cư trước đó, đây chính là ông cha của lớp người gốc Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn ngày nay. Với sự bổ sung và năng nổ của họ, nhà Nguyễn có điều kiện tiếp tục khai khẩn và dần dần sáp nhập các vùng lân cận như Bến Tre, Đồng Tháp, Bạc Liêu,.. rồi tới Cà Mau, Phú Quốc.

Tóm lại

Kể từ sự sụp đổ của Đế chế Khmer, nước Campuchia không ngừng bị thu hẹp về tứ phía, tới thế kỷ 19 tiếp tục chịu sự đô hộ của Pháp và dù dành được độc lập nhưng vẫn phát triển yếu ớt tới ngày nay. Có thể hiểu tại sao người dân Campuchia lại ấm ức vì đất của họ bị thu hẹp mất như vậy, tuy nhiên cũng cần hiểu rằng việc giao tranh và xử lý bằng sức mạnh ở thời phong kiến là thường thấy, và hơn nữa khu vực miền Tây Nam Bộ của Việt Nam ngày nay thời đó Campuchia cũng không hề quản lý, chỉ như một khu vực sình lầy bỏ hoang. Đó là còn chưa kể, khu vực này xa xưa đã bị chính Chân Lạp từ phía Bắc chiếm xuống và thâu tóm, nên cũng không thể gọi là gốc thuộc về Campuchia. Nếu Campuchia vẫn mặc cảm khu vực này là “của mình” và muốn “đòi lại” thì có lẽ hỏi phải đòi luôn cả nước Thái Lan và nước Lào cho đủ Đế quốc Khmer xưa!

Một lịch sử như trên cũng phần nào giải thích sự khác biệt vùng miền của nước ta. Hồi bé thì cứ tự hỏi vì sao giọng ng miền Nam và miền Bắc dù khác nhưng vẫn hao hao mà sao giọng người miền Trung nặng thế, hay vì sao ở Sài Gòn – Gia Định lại có số người gốc Hoa nhiều vậy mà không phải ở phía Bắc gần hơn, hay vì sao tên địa danh ở miền Nam lại không hề mang ý nghĩa Hán Việt nào,…

Đông Dương ngày nay

“Marketing” vs “Tiếp thị”

Như sẽ đề cập ở một bài viết khác, việc đưa các thuật ngữ và tên nước ngoài vào tiếng Việt là một vấn đề nhạy cảm và rất tiếc là không có một quy chuẩn thống nhất. Như một thói quen, chúng ta hạn chế việc để nguyên các thuật ngữ “khó hiểu” đó và cố gắng Việt hoá chúng hết sức có thể. Tuy nhiên vì Việt Nam là một nước đi sau trong vô vàn lĩnh vực, việc làm ấy hầu như là không khả thi, và nếu có thì cũng cần có sự phân tích nghiên cứu cụ thể chứ không thể dùng theo cảm tính và rồi dần dần trở thành thói quen, đến khi cần sửa lại không sửa được nữa. Bài viết nhỏ này sẽ đề cập tới một trường hợp cụ thể, từ “marketing“.

marketingCloud

Mặc dù là một từ sinh sau đẻ muộn, nhưng với đặc tính đương đại và phổ biến của nó, “marketing” ngày nay được sử dụng rất rộng rãi trong các văn bản về kinh tế, kinh doanh. Tuy nhiên, dù ở bản địa nó đã trở thành phổ thông (được đưa vào từ điển tiếng Anh năm 1944 – mới chỉ ngót nghét 60 năm tuổi!) thì ở Việt Nam có lẽ từ này mới chỉ du nhập khoảng 10-20 năm trở lại đây, và đương nhiên mức độ phổ thông chưa thể nói là cao. Kết quả là khi cần chuyển ngữ một văn bản TA sang TV cho đại chúng thì người dịch nhiều khả năng sẽ bị bối rối. Sự việc càng trở nên khó xử trí hơn, khi đã có ai đó, trong khoảng 10-20 năm này, đã tạo ra một từ là “tiếp thị” – và thậm chí đưa nó cả vào từ điển Anh-Việt.

Việc các nhà ngôn ngữ học mất hút ở VN khiến những ai làm việc liên quan đến ngôn ngữ không có cái quy chuẩn nào để bám vào và buộc phải tự cứu lấy mình, tự mình chọn ra giải pháp khả dĩ nhất. Và để làm việc đó, chỉ có một cách là hiểu thật rõ nghĩa của hai từ này.

Marketing là gì?

Ngay cả ở nơi sinh ra thuật ngữ này là Mỹ thì việc định nghĩa “marketing” vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều và cho tới nay vẫn nghĩa của từ này vẫn tiếp tục được mổ xẻ, phát triển và tái định hình. Sự thực thì với một từ ngữ non trẻ thế này thì việc tìm hiểu nghĩa của nó không nên dựa vào từ điển mà phải từ chính những người tham gia và hiểu rõ nhất “cái gọi là marketing”. Có thể nêu ra một số định nghĩa và quan điểm nổi tiếng:

Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA): Marketing là một tập hợp các tiến trình tạo ra, lưu chuyển và truyền đạt các giá trị đến khách hàng, và quản lý quan hệ khách hàng theo các cách khác nhau để đem lại lợi ích cho tổ chức và các bên có quyền lợi liên quan.

Philip Kotler: Marketing là quá trình mà các cá nhân hay tập thể đạt được những gì họ cần và muốn thông qua việc tạo lập, cống hiến và trao đổi tự do giá trị của các sản phẩm và dịch vụ với nhau

Peter Drucker: Mục đích chính của marketing là biết và hiểu rõ khách hàng thật tốt để tự thân sản phẩm có thể bán được nó mà không cần đến bộ phận bán hàng!

Mitsuaki Shimaguchi: Marketing là việc tạo ra một “cơ chế” để sản phẩm/dịch vụ được tiêu thụ

Seth Godin: Marketing cần tập trung vào cải thiện sản phẩm để nó tự nổi bật, thuyết phục được những người thích trải nghiệm, và từ đó kết nối với những người khác xung quanh họ

Có một số điểm cần lưu ý khi bạn xem xét các định nghĩa trên. Hãy nhìn vào định nghĩa của P.Kotler, xét theo nghĩa rộng, Marketing bao gồm mọi hoạt động tạo ra và trao đổi các  giá trị để cá nhân hay tập thể đạt được điều họ cần và muốn. Điều này có nghĩa marketing không chỉ giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp sản xuất bán hàng, mà còn mở ra cả các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức chính quyền, trường học, thậm chí cả các cá nhân. Việc một ứng viên tổng thống xây dựng hình ảnh, tổ chức sự kiện, vận động bầu cử,… cũng có thể được coi là một dạng marketing, khi họ, thông qua tương tác với các cử tri, giới thiệu giá trị của mình, và nhận được trao đổi (cung cấp giá trị – nhận lại phiếu bầu) theo ý muốn.

Tuy vậy khởi nguồn của Marketing vẫn là từ thương trường. Marketing ra đời trong bối cảnh tư duy “sản xuất và bán ra” không còn phù hợp. Không phải cứ làm ra một sản phẩm nào, mặc dù nó rất tốt, và gán cho nó một mức giá phù hợp là có thể cứ thế bán được nó. Và cho dù đổ 1 núi tiền vào quảng cáo trên tivi hay báo chí cũng không thể khiến sản phẩm ấy bán được tốt hơn. Vì lẽ đó, marketing chủ trương cải biên MỌI KHÂU trong hoạt động của một doanh nghiệp, để cả bộ máy ấy có thể cung cấp ra thị trường (xã hội) các sản phẩm tốt hơn, phù hợp hơn, nổi bật hơn,.. tóm lại là ĐƯỢC mọi người ĐÓN NHẬN. Có thể thấy định nghĩa của Shimaguchi, tuy chỉ thịnh hành ở Nhật Bản, nhưng là một định nghĩa rất hay, vừa cô đọng lại vừa bao quát được khá đủ ý của hoạt động Marketing.

Vậy việc “cải biên mọi khâu” để đưa ra được “sản phẩm mà mọi người đón nhận” kia cụ thể là thế nào?

Marketing gồm những gì?

Trước tiên cần nhắc đến lý thuyết Marketing cổ điển, phân chia marketing thành các “pha”: Segmentation (Phân đoạn thị trường) – Targeting (Nhắm phân khúc mục tiêu) – Positioning (Định vị hình ảnh), hiểu nôm na là chia thị trường thành các mảng có đặc tính khác nhau, dựa trên khả năng của mình xem mình phù hợp cung cấp sản phẩm cho phân khúc nào nhất, tập trung vào phân khúc đó và định vị với khách hàng một hình ảnh có cá tính riêng, duy nhất, nổi bật,.. về sản phẩm của mình.

marketing stp

Đặc biệt là ở công đoạn thực thi, không thể không nhắc tới “bộ chân kinh” marketing mix (4P) đã quá phổ biến trong công tác Marketing: Product (sản phẩm) – Price (giá cả) –  Place (phân phối) và Promotion (tiếp thị). Đây là bộ 4 tiêu chuẩn nòng cốt mà các “phòng Marketing” ở các công ty được thành lập để xử lý, hoạch định các chính sách liên quan tới hoạt động kinh doanh của mình.

marketing mix

Bên cạnh đó, có hai hoạt động vốn thuộc Marketing đã phát triển rất mạnh để hầu như trở thành một lĩnh vực độc lập, đó là Advertising (quảng cáo) và Public Relation (PR – quan hệ công chúng)

Marketing và còn hơn thế nữa

Tuy nhiên, Marketing hiện đại không chỉ có các yếu tố trên. Nhiều người trong ngành đã kêu gọi loại bỏ cái gọi là “marketing department” (phòng marketing) vì nó làm người ta hiểu sai bản chất của marketing. Marketing không chỉ là các hoạt động bề nổi, giới thiệu, quảng bá, định vị cái đã có sẵn (sản phẩm và thương hiệu) hay kể cả rộng hơn là điều tra thị trường, nắm bắt nhu cầu và cải tiến sản phẩm,… Marketing cần là một tư duy thông suốt, bắt nguồn từ cấp quản lý cao nhất (đưa ra các chiến lược về mọi mặt để cải thiện bộ máy theo mục đích cuối cùng của marketing nói trên) xuống tới những nhân viên cấp thấp nhất trong các bộ phận bán hàng, chăm sóc khách hàng, thu ngân, thậm chí là quét dọn, bảo vệ. Bất cứ ai trong công ty cũng cần là một “nhân viên marketing”, và bất cứ đồ vật/cơ sở gì trong công ty cũng cần là “đối tượng của marketing” chứ không chỉ riêng sản phẩm, bởi vì họ/chúng đều trực tiếp hay gián tiếp có ảnh hưởng tới hiệu quả của marketing.

marketing customer-service-jpg

Không dừng lại ở đó, marketing còn được phát triển để hình thành tam giác: External Marketing (marketing hướng ngoại), Internal Marketing (marketing hướng nội) và Interactive Marketing (marketing tương tác). Trong đó internal marketing vốn xưa nay do bộ phận nhân sự đảm nhiệm, tập trung vào các hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu của nhân viên trong nội bộ công ty, và qua đó khéo léo khiến họ đạt hiệu quả cao nhất trong công việc, vì lợi ích của cả công ty. Hoặc interactive marketing chủ trương đề cao sự tương tác giữa công ty với mỗi thực thể khách hàng, coi mỗi khách hàng là một cá nhân đặc biệt và đối xử, trao đổi, tương tác với họ theo cách phù hợp nhất.

marketing interactive

Cuối cùng, như một bước phát triển tiếp theo, khi mà tư duy marketing, dù có phát triển và cải tiến thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ trở nên lỗi thời. Bởi marketing dù sao đi nữa cũng cố định trong nó tư tưởng “market” – thị trường, nên khi thế giới ngày càng trở nên bất ổn và thiếu lòng tin, cuối cùng thì các công ty, dù là hoạt động dựa trên theo đuổi lợi nhuận đi nữa, cũng phải chuyển sang tư  tưởng hướng về xã hội, thuận chiều với lợi ích lâu dài của xã hội, môi trường,.. chứ không chỉ đơn thuần là nhu cầu của thị trường.

Kết

Trở lại với mục đích ban đầu của bài viết, với những nét khái quát nói trên về khái niệm “marketing”, chúng ta có thể hiểu sơ bộ marketing là gì và nó bao gồm các hoạt động nào, và tình hình tiến hoá của thuật ngữ này ra sao. Cá nhân mình ủng hộ cách sử dụng rộng rãi và phổ biến thuật ngữ “marketing” trong văn bản tiếng Việt, chứ không phải từ “tiếp thị” – một từ mang nghĩa khá hẹp và sẽ không phù hợp với sự phát triển tiếp theo của marketing. (Wikipedia tiếng Việt cũng đồng tình với quan điểm này http://vi.wikipedia.org/wiki/Marketing) Rất may là trong trường học hay giới kinh doanh thì từ marketing đã được sử dụng chính thức, sẽ thật là thảm hoạ nếu một trường ĐH nào đấy mở “Khoa tiếp thị” hay một công ty mở “phòng tiếp thị” để xử lý các hoạt động marketing của mình.

mkien155 – 2013.02

Cảm xúc đàn ông tuổi 30

Image

Một bài viết hay bắt gặp bất ngờ trên mục Tâm sự của VnExpress vốn đầy những ghen tuông, ngoại tình, thất tình, đau khổ,..v..v.. Tác giả có thể chỉ là một độc giả bình thường, nhưng ngôn ngữ thành thật xuất phát từ trái tim, dựa trên những xúc cảm thực tế này khiến mình đồng cảm kỳ lạ. Dù chưa đến tuổi 30 nhưng đã bắt đầu mớm sờ thấy những nét cảm xúc này rồi…

Thế hệ, một thời gọi là “vàng”, 8x của chúng ta người đã sang tuổi 30, người cũng sắp thành 30. Đến độ tuổi này, nói là già thì cũng chưa phải, với đàn ông, người ta nói 30 chính là quãng đời hiệu quả nhất của cuộc đời họ, nhưng cũng đủ vốn sống và trải nghiệm để bắt đầu thấm thía sự ngắn ngủi, vô thường của đời người.

Tuổi 30, ta độ lượng với mọi người và đặc biệt với bản thân hơn một chút. Phải chăng là vì trong quá trình đi chứng minh bản thân và tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: ta là ai? Ta sống vì cái gì, ta đã ngộ ra giới hạn của bản thân mình? Có một người khi luận bàn về giới hạn của con người đã đặt ra một yêu cầu rất đơn giản, bạn thử giơ tay lên trời 10 phút, xem bạn có làm được dễ dàng không?

Hiểu được giới hạn của bản thân, tự động làm ta trân trọng hơn những gì người khác làm được, dù việc đó rất nhỏ nhặt và tưởng chừng có vẻ như không có gì đặc biệt. Vì ta biết để đọc hiểu một đoạn văn, ta có thể chỉ mất 1, 2 phút là xong, nhưng để viết được những câu văn ấy, có khi ta sẽ mất cả đời tập luyện cộng với một chút năng khiếu thiên bẩm.

Nếu tuổi 20 ta tập chơi một bản nhạc, thì mục tiêu biểu diễn là để “lấy le” với các em. Đệm hát tán gái là cẩm nang đầu giường của anh em tập guitar thời ấy. Tuổi 30 cầm cây đàn lên chỉ muốn thể hiện được lòng mình. Nhiều khi, ta chỉ muốn được tấu lên một giai điệu đã trở thành một phần thời thơ ấu của ta, khi còn chân đất bứt phượng hái bàng, bắn bi. Ta tìm đến âm nhạc như một công cụ để diễn đạt lòng mình hơn là để khoe, hay lấy lòng ai đó.

Tuổi 20, ta xem những người cũng theo đuổi những mục tiêu giống mình. Ví dụ nghề nghiệp là đối thủ bởi ta sợ họ sẽ lấy mất phần cơ hội mà ta cũng muốn giành lấy. Tuổi 30, ta lại xem những người ấy là tri kỷ là bởi vì thật quý giá và đặc biệt biết bao khi giữa dòng đời xô bồ này, ta gặp được người đồng điệu với mình.

Tuổi 20, ta hồi hộp nhất là trước một chuyến đi xa. Đêm nằm không chợp mắt, mơ tưởng về những điều mới lạ ở những vùng trời mà ta chưa từng đặt chân đến, có chăng chỉ được nghe kể trong những chuyện cổ tích trong sách vở. Trái đất lúc đó đối với ta như biển cả mênh mông, rộng mà không có bến đỗ.

Tuổi 30, ta hồi hộp nhất lại là trước một chuyến đi về, về với gia đình nơi ta đã nhận ra là nơi duy nhất trên trái đất này có một tình yêu vô điều kiện ngự trị. Và sẽ dang tay đón ta về bất kể ta là ai, thành hay bại, tốt hay xấu, sang hay hèn. Tuổi 30, trái đất này như cái ao làng thu nhỏ, cũng có lúc sóng vỗ dạt dào nhưng không khiến ta quá hoảng sợ nữa.
Có người từng kể, sau 5 năm đi xa quay trở về, đứng trên sân nhà mình nhìn xuống vườn thấy bỗng nhiên thấy vườn không còn sâu hun hút như ngày xưa mà cảm giác rất gần với sân. Có lẽ, không phải vườn được nâng lên mà khái niệm cao thấp tương đối trong thế giới quan của anh ta đã thay đổi.

Ta già đi đồng nghĩa với thế hệ tương lai ta sẽ lớn lên và dần dần thay thế ta. Bỗng nhiên ta tưởng tượng: một môi trường mà ở đó Đô sang nhà Ken tập piano, Bin sang nhà Chíp chơi violon… Một môi trường nơi mà tâm hồn của trẻ em Việt thế hệ tương lai được nuôi dưỡng bằng những lời ru, dòng nhạc. Biết đâu khi trưởng thành các Đô, Ken, Bin, Chíp ngày ấy sẽ cảm ơn thế hệ cha mẹ chúng đã tạo điều kiện cho những dòng nhạc nuôi dưỡng tâm hồn chúng ngay từ bé.

Minh Quang

Thủ tục du lịch khi quá cảnh qua Trung Quốc (chuyến bay Nhật – VN)

Thông thường, khi tìm đặt vé máy bay về Việt Nam trong các kỳ nghỉ, chúng ta hay ưu tiên các loại vé bay thẳng (direct flight) hơn vì đỡ tốn thời gian, đỡ mất sức vì không phải chờ đợi rồi di chuyển hành lý như trong các chuyến bay quá cảnh (transit flight). Các chuyến bay có quá cảnh chỉ hấp dẫn ở một yếu tố duy nhất đó là giá rẻ, mà phải thực sự rẻ chứ nếu không khác nhiều lắm thì mọi người cũng ngại động đến, nhất là với các đường bay gần như Nhật – VN.

Tuy nhiên, các chuyến bay quá cảnh này lại gợi ra một cơ hội khá tốt với các bạn nào thích du lịch khi chúng ta có thể tận dụng khoảng thời gian quá cảnh để làm một tour du lịch ngắn vào nước quá cảnh đó, rất là bụi và chớp nhoáng, điều mà thông thường sẽ cần một kế hoạch du lịch đầy đủ cả về lịch trình, thời gian, cũng như tiền bạc thì mới có thể tiến hành được. Du lịch kiểu này sẽ hơi mệt một chút (vì bạn sẽ không được nghỉ trong suốt thời gian chuyển tiếp, phải làm sao làm thủ tục nhập cảnh nhanh, đi nhanh, ăn nhanh, xem nhanh, rồi về cho kịp chuyến bay), thời gian ngắn không đi được nhiều, nhưng bù lại sẽ có cái lợi là coi như mình không mất tiền vé máy bay cho chuyến đi, việc nhập cảnh trong thời gian ngắn mà không ngủ lại sẽ đỡ được tiền ở, đỡ phải thuê khách sạn, thuận tiện xin visa,…

Vì đợt sắp tới này mình sẽ đi theo cách như trên, bay từ Nhật về VN quá cảnh qua Trung Quốc nên bài viết này (và các phần sau) sẽ tập trung vào những thứ phải chuẩn bị và một số điều cần chú ý cho chuyến đi, hy vọng sẽ có ích hoặc gợi ý phần nào cho các bạn có cùng nhã hứng.

Tham khảo thông tin ban đầu và đặt vé máy bay

Yêu cầu đầu tiên để bạn có thể thực hiện chuyến đi như dự kiến là thời gian quá cảnh phải đủ dài, thường thì phải có ít nhất 6 tiếng trở lên. Những chuyến du lịch kiểu này thường là tới những nước mà bạn chưa đến bao giờ nên chắc chắn sẽ có những bỡ ngỡ, bối rối ban đầu, thêm nữa các sân bay thường nằm ra xa khu trung tâm, di chuyển vào trung tâm thành phố cũng phải mất cả tiếng, nên tính hết các yếu tố này. Rất may là cùng một “gói bay”, khi đặt vé bạn có thể lựa chọn các chuyến trên từng chặng, khi đó hãy chọn làm sao để kéo dài khoảng thời gian quá cảnh ra dài nhất có thể.

Việc đặt vé (từ Nhật về VN) có thể thực hiện qua một số trang phổ biến sau:

http://www.skygate.co.jp/
http://www.his-j.com/Default.aspx
– http://www.airticket.ne.jp/
– http://www.tornos.jp/
– http://www.etour.co.jp/

Với quãng đường từ Nhật về Việt Nam thì thường sẽ có một vài phương án quá cảnh chính là Thượng Hải, Quảng Châu (Trung Quốc), Seoul, Pusan (Hàn Quốc), Taipei (Đài Loan), Hongkong (Hongkong), Kuala Lumpur (Malaysia), Manila (Philippines) hoặc Bangkok (Thái Lan). Tùy vào sở thích cũng như tình hình vé mà bạn sẽ lựa chọn điểm đến cho phù hợp.

Tiếp theo đó, trước khi đặt vé chính thức, hãy kiểm tra xem việc du lịch trong thời gian quá cảnh tại điểm đến bạn đã chọn có thực sự thuận tiện không. Đôi khi một số nơi có thủ tục nhập cảnh nhiêu khê, khả năng gửi hành lý để đi chơi khó khăn hay giao thông trong nội địa không thuận tiện thì cũng sẽ rất khó để trong một thời gian ngắn bạn có thể đi thăm được nhiều nơi như ý muốn. Riêng với Thượng Hải thì khá thuận lợi, có sẵn một trang bằng tiếng Nhật http://www.shanghainavi.com/special/5039663 cung cấp tất tần tật mọi thứ về du lịch Thượng Hải, trong đó có hẳn một phần dành cho du lịch quá cảnh, mô tả chi tiết những việc cần làm, những nơi cần đi nếu bạn có trong tay từ 5 giờ quá cảnh trở lên ở sân bay Pudong. Họ còn vạch ra những phương án khác nhau (course) để người đọc lựa chọn, thậm chí còn giới thiệu cả các Transit Tour do các công ty du lịch cung cấp, thường với mức phí 100USD cho 5h thăm thú.

Cuối cùng, sau khi tham khảo kết quả ở các trang như trên mình quyết định đặt vé của China Eastern Airlines (中国東方航空) qua trang SkyGate. Chuyến bay sẽ xuất phát khoảng 11h trưa từ Narita (Tokyo) và đến Thượng Hải vào khoảng 1h chiều. Từ lúc đó mình sẽ có hơn 8 tiếng để đi khám phá Thượng Hải và trở về kịp chuyến bay về VN lúc 10h tối.

Làm visa quá cảnh

Công việc tiếp theo cũng không kém phần quan trọng, đó là làm visa vào TQ. Đối với khách quá cảnh thì Trung Quốc có quy định cụ thể về visa như sau:

– Với công dân Singapore, Brunei hoặc Nhật Bản sẽ được miễn hoàn toàn visa khi vào Trung Quốc
– Nếu thời gian quá cảnh của bạn không quá 24h và bạn không có ý định ra khỏi sân bay, bạn cũng không cần xin visa
– Công dân của các nước sau được miễn visa đối với mọi trường hợp quá cảnh: Hàn Quốc, Mỹ, Canada, Úc, New Zealand, Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxemburg, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Áo, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, và Ai Len. (ko có Việt Nam)

Tóm lại, người Việt Nam sẽ phải làm visa để vào Trung Quốc trong thời gian quá cảnh ở đây.

Để làm visa quá cảnh (Transit Visa, hay G Visa) thì theo luật người ta nói rằng sẽ làm tại ĐSQ Trung Quốc với mức phí khoảng 4000Yen đối với người không phải công dân Mỹ (công dân Mỹ luôn bị tính một mức phí cao hơn cho mọi thủ tục lãnh sự vào TQ). Tuy nhiên thực tế đi làm visa mới thấy phong cách Trung Quốc cũng chẳng khá hơn Việt Nam là mấy và mọi thứ đều phải đi đường vòng.

Đây là kinh nghiệm mình đi làm transit visa ở ĐSQ Trung Quốc ở Tokyo. Ban đầu hỏi về việc làm transit visa ở tầng 1 thì người ta vẫn sẽ chỉ lên tầng 3 như thường. Lên tầng 3 sẽ có tờ form làm visa để bạn khai vào đó, cùng các loại máy photocopy để chuẩn bị các giấy tờ cần thiết. Các giấy tờ trong hồ sơ:

– Đơn khai báo làm visa
– Bản sao Hộ chiếu, visa vào Nhật
– Bản sao Thẻ chứng minh người ngoại quốc (Alien Card) vẫn dùng ở Nhật
– Bản sao Vé máy bay toàn chuyến
– Một ảnh 3×4

Tuy nhiên khi đã chuẩn bị xong rồi thì mình nhận được câu trả lời là ĐSQ không nhận đơn làm visa của cá nhân nữa mà phải qua “công ty du lịch” ở bên ngoài. Tự hỏi tại sao người ta không nói từ sớm mà vẫn chỉ mình lên đây? Giả sử rằng nếu chỉ nhận đơn làm visa tập thể thì tại sao các tờ đơn ở đây toàn là đơn dành cho cá nhân? Thêm nữa “quy định” này không hề xuất hiện trên bất cứ văn bản thành văn nào cả.

Bên ngoài, nằm cạnh ĐSQ này thì đã có một vài “công ty du lịch” chờ sẵn. Thực tế đây chỉ là những đơn vị làm “cò” có cấu kết với người bên trong. Họ thụ lý hồ sơ, không đòi hỏi yêu cầu gì thêm, chỉ là “thay mặt” ĐSQ làm thủ tục cho bạn, và tính một mức giá gấp đôi. Ban đầu thì người ta sẽ hét 8000Yen gồm cả phí bưu điện gửi tới tận nhà. Nhưng sau đó khi mình tỏ ý suy nghĩ thêm chuẩn bị đi ra thì lại nhận được giá chào 7000Yen. Bạn nào đi làm lần sau có lẽ có thể mặc cả thêm nữa nếu có thời gian. Nói chung đây là khoản mình cảm thấy xót nhất khi quyết định đi chuyến này. Một mức giá cắt cổ cho tấm visa sử dụng trong vỏn vẹn 8 tiếng đồng hồ.

BRLS (3) Love of A Lifetime by Firehouse (1991)

BRLS stands for Best Rock Love Songs, this is a personal collection.

Title: Love of A Lifetime
Artist: Firehouse
Album: Firehouse (1991)

.

Lyrics:

I guess the time was right for us to say,
We’d take our time and live our lives together day by day.
Make a wish and send it on a prayer.
We know our dreams can all come true if loving we can share.
With you I’ll never wonder, will you be there for me
With you I’ll never wonder, you’re the right one for me.

I finally found a love of a lifetime.
A love to last my whole life through.
I finally found a love of a lifetime.
Forever in my heart, I finally found a love of a lifetime.

With every kiss our love is like brand new,
And every star up in the sky was made for me and you.
Still we both know that the road is long.
We know that we will be together because our love is strong.

I finally found a love of a lifetime.
A love to last my whole life through.
I finally found a love of a lifetime.
Forever in my heart,
I finally found a love of a lifetime.

I finally found a love of a lifetime.
A love to last my whole life through.
I finally found a love of a lifetime.
Forever in my heart I finally found a love of a lifetime.
Love of lifetime.
I finally found a love.
Forever in my heart I finally found a love of a lifetime.

.

BRLS (2) Patience by Guns & Roses (1988)

BRLS stands for Best Rock Love Songs, this is a personal collection.

Title: Patience
Artist: Guns & Roses
Album: G N’ R Lies (1988)

.

Lyrics:

(1..2…1,2,3,4) – <whistle>
Shed a tear ’cause I’m missing you
I’m still alright to smile
Girl, I think about you every day now
‘Was a time when I wasn’t sure
But you set my mind at ease
There is no doubt you’re in my heart now
Sad woman take it slow
It’ll work itself out fine
All we need is just a little patience
Sad Sugar make it slow
And we’ll come together fine
All we need is just a little patience
(inhale) Patience…

I sit here on the stairs
‘Cause I’d rather be alone
If I can’t have you right now, I’ll wait then
Sometimes, I get so tense
But I can’t speed up the time
But you know, love, there’s one more thing to consider
Sad woman take it slow
And things will be just fine
You and I’ll just used a little patience
Sad Sugar take the time
‘Cause the lights are shining bright
You and I got what it takes to make it
We wont fake it
Ahh we’ll never brake it
‘Cause I cant take it

…little patience, mmm yeah, ooh yeah,
I need a little patience, yeah
Just a little patience, yeah
Some more pati… (ence, yeah)
I’ve been walking the streets at night
Just trying to get it right (Need some patience, yeah)
It’s hard to see with so many around
You know I don’t like being stuck in a crowd (Could use some patience, yeah)
And the streets don’t change but maybe the names
I ain’t got time for the pain
‘Cause I need you (Patience, yeah)
Yeah, yeah well I need you
Oh, I need you (Take some patience)
Whoa, I need you (Just a little patience is all we need)
Ooh, All this ti- me….

 

BRLS (1) I Remember You by Skid Row (1989)

BRLS stands for Best Rock Love Songs, this is a personal collection.

Title: I Remember You
Artist: Skid Row 
Album: Skid Row (1989)

.

Lyrics:

Woke up to the soothing sound of pouring rain
The wind would whisper and I’d think of you
And all the tears you cried, that called my name
And when you needed me I came through

I paint a picture of the days gone by
When love went blind and you would make me see
I’d stare a lifetime into your eyes
So that I knew that you were there for me
Time after time you were there for me

Remember yesterday, walking hand in hand?
Love letters in the sand – I remember you
Through the sleepless nights, through every endless day
I wanna hear you say I remember you

We spent the summer with the top rolled down
Wished ever after would it be like this
You said I love you babe, without a sound
I said I’d give up my life for just one kiss
I’d live for your smile and die for your kiss

Remember yesterday, walking hand in hand?
Love letters in the sand – I remember you
Through the sleepless nights, through every endless day
I wanna hear you say I remember you

We’ve had our share of hard times
But that’s the price we paid
And through it all we kept the promise that we made
I swear you’ll never be lonely

Woke up to the sound of pouring rain
Washed away a dream of you
But nothing else could ever take you away
‘Cause you’ll always be my dream come true
Oh my darling, I love you

Remember yesterday, walking hand in hand?
Love letters in the sand – I remember you
Through the sleepless nights, through every endless day
I wanna hear you say I remember you

Remember yesterday, walking hand in hand?
Love letters in the sand – I remember you
Through all the sleepless nights, through every endless day
I wanna hear you say, I remember – I remember you